Thâm nhập “vùng đất tử thần” (cuối): Những người "qua mặt thần chết"

> Thâm nhập vùng đất tử thần (2): Chuyện ở làng mua gạo bằng… bom
 
Thâm nhập “vùng đất tử thần” (cuối): Những người "qua mặt thần chết" 1

“Vùng đất tử thần” giờ là những cánh rừng cao su bạt ngàn sức sống. Ảnh: QT

 
Chồng nát mắt, vợ cụt tay
 
Qua rồi cái thời cả làng cả xã vác cuốc vác cưa đi đào, đi xẻ bom đạn kiếm cơm, kiếm áo. Hải Thái bây giờ, nhiều câu chuyện vui đã trở lại, nhiều gương mặt đang được nhắc đến như một tấm gương vượt lên nỗi đau. Đáng kể như chuyện của anh Phan Lâm ở thôn 5. Anh Lâm năm nay đã ngoài 50 tuổi, hơn nửa cuộc đời phải sống trong tăm tối mù lòa. Thuốc nổ đã cướp đi đôi mắt của anh từ thuở mới đôi mươi.

Anh Lâm kể: “Hồi đó, tôi theo chân các thanh niên trong xã đi tháo đạn lấy thuốc nổ bán. Không may, trong một lần tháo đầu nổ, quả đạn pháo đã phát nổ. Hai người trực tiếp tháo đã chết. Tôi đứng sau, bị thương vào mắt. Cũng từ đó tôi không thấy gì nữa. Tai họa đổ ập đến bất ngờ mà không có cơ hội sửa sai”. Về sau, anh Lâm đã kết hôn với chị Nguyễn Thị Sáng, người cùng xã và bị cụt tay cũng do mìn trong một lần đi làm nương. Hai mảnh đời éo le gặp nhau và họ quyết tâm vượt lên số phận. Vợ chồng anh Lâm vay mượn tiền mua bò về nuôi. Ngày hai bữa, người chồng mù lòa dắt bò đi ăn. Tối đến, anh tranh thủ làm tăm tre cho Hội người mù kiếm thêm thu nhập, còn người vợ thì đi vét mủ cao su sót. Cuộc sống của họ cứ thế trôi đi bình yên và hạnh phúc dù hoàn cảnh trước đó ít người nghĩ họ có thể vượt qua được
 
Thâm nhập “vùng đất tử thần” (cuối): Những người "qua mặt thần chết" 2

Anh Lâm với đôi mắt mù lòa.


Nói về công việc của mình trong cái thiệt thòi “khó đôi bàn tay”, chị Sáng bảo: “Cái nghề vét mủ cao su này cũng cực lắm. Có khi phải gói cơm đi ăn qua trưa trong rừng. Đến những cánh rừng cao su họ khai thác rồi, còn vương lại chút mủ trong bát mình đến vét lại. Được bao nhiêu gom lại bán cho đầu mối thu mua”. Ngày nắng cũng như hôm mưa, vợ chồng họ chỉ gặp nhau lúc mặt trời xuống núi. Mỗi tháng bươn bả ngoài rừng không nghỉ ngày nào, chị Sáng cũng kiếm được hơn triệu đồng tiền mủ. Cùng với thu nhập tuy không nhiều của chồng nhưng gia đình chị cũng đủ tiền nuôi con ăn học và trang trải trong cuộc sống.

Vét mủ cao su hiện đã trở thành một nghề của phụ nữ Hải Thái. Bởi ngoài mảnh ruộng, họ có còn nghề gì kiếm ra tiền nữa đâu. Tuy nhiên, việc vét mủ cũng lắm cơ cực, nhiều lúc họ bị bảo vệ đồn điền đuổi, phải chạy tháo mạng. Có những buổi chiều, họ còn bị tịch thu thành quả lao động cả ngày.  
 
Sự sống “mọc” trên cái chết!

Bà Nguyễn Thị Tươi (50 tuổi, trú tại thôn 2, xã Hải Thái) đang cuốc thửa đất đầu thôn để trồng sắn. Đã nhiều vụ rồi, ruộng sắn của bà mọc lên xanh tốt và cho nhiều củ. Bà nói, kể từ khi các đội rà phá bom mìn đến đây dọn đi một khối lượng lớn bom mìn, bà và những người cùng xóm mới yên tâm cuốc xới canh tác. Trước đây chẳng ai dám cày cuốc sâu chỉ vì sợ trúng bom mìn mất mạng, họ chỉ xới lợt xợt trên mặt đất nên năng suất chẳng được bao nhiêu.

Theo bà Tươi thì trước đây, vùng này gần như là “vùng đất chết”, chỉ có cỏ cây hoang dại mọc, chẳng ai dám bổ nhát cuốc nào xuống cả. Nhưng rồi, nó được “làm sạch” bởi các dự án rà phá bom mìn. Người ta lôi hết bom mìn lên mặt đất. Không biết cơ man nào là khối nổ. Nào bom cỡ lớn, cỡ nhỏ; nào các loại đạn, mìn sát thương được moi lên và đưa đi xử lý. Người dân lúc đấy mới yên tâm cày cuốc làm ăn.

Bàn tay con người đã làm sống lại vùng đất này. Sự “liều lĩnh” của người dân ban đầu đã được đền đáp. “Liều lĩnh” ở đây không phải đi tháo gỡ bom mìn. Mà họ “liều lĩnh” bám trụ lại mảnh đất này, quyết tâm xua đuổi thần chết để xây dựng cuộc sống. Những cánh rừng hàng chục hecta cao su hàng nối hàng chạy dài, trong đó hơn một nửa bắt đầu cho thu hoạch. Những vườn tiêu, ngô, sắn cũng mọc lên từ mảnh đất đầy bom đạn ngày trước.

Hải Thái được xem là nơi nhiều bom mìn nhất của cả nước. Cùng với những ngôi làng tái định cư khác khắp vùng đất Quảng Trị, “vùng đất chết” năm xưa với những hàng rào thép gai, những lưới bom mìn dày đặc trong chiến tranh, đã từng bước thay vào đó là những ngôi làng ngói mới đỏ tươi mọc lên san sát như được tái sinh, thắp lên hi vọng về một tương lai an toàn thật sự, dù vẫn phải nhắc lại rằng cuộc chiến làm sạch bom mìn ở “vùng đất chết” này vẫn còn trong nay mai, hoặc lâu hơn nữa.

Thật lạ, mất mát đã phải chịu, thương tật đã mang vào người, nhưng chẳng ai đã đến cái xóm bom mìn này lại bỏ đi. Có chăng họ bỏ là bỏ cái nghề tháo bom lấy sắt, lấy thuốc nổ mưu sinh. Nhìn những đồi cao su xanh ngút ngàn tầm mắt, văng vẳng lời ông trưởng thôn 6B Hoàng Văn Tùng: “Rồi một ngày không xa, cái tên “thôn bom mìn”, “vùng đất tử thần” nghe đến lạnh cả người đó sẽ không còn ai gọi nữa”. Tôi cũng tin lời ông!
 
Quang Thành