Sau vụ thảm sát kinh hoàng: Nước Mỹ khó cấm súng

Nước Mỹ sẽ khó có lệnh kiểm soát súng mới sau vụ thảm sát
vừa xảy ra ở Colorado.
 
Tuy nhiên giới phân tích đã sớm bày tỏ sự nghi ngờ về khả năng thành công của việc này.

Hai chính đảng ngại ngần

Đêm 19/7, sát thủ James Holmes đã xách súng tới một rạp chiếu phim ở Aurora, Colorado và vãi đạn vào các nạn nhân, trong cuộc thảm sát khiến cả nước Mỹ bị sốc. Cơ quan cảnh sát nói rằng Holmes đã mua được 4 khẩu súng và 6.000 viên đạn một cách hợp pháp trong có 2 tháng. Việc Holmes mua súng đạn quá dễ dàng đã làm nổ ra những tranh cãi về việc tăng cường kiểm soát súng ở Mỹ.

Tuy nhiên, đã hơn một thập niên kể từ khi những người cổ súy cho việc kiểm soát súng có được một đạo luật giống như họ mong muốn. Nguyên nhân do giới làm chính trị ngại động tới vấn đề nhạy cảm này, bởi nó có thể khiến họ phải trả giá đắt. Năm 1994, Quốc hội Mỹ đã triển khai một lệnh cấm dài 10 năm với 19 loại vũ khí tấn công tiêu chuẩn quân sự. Một số người thuộc đảng Dân chủ về sau tin rằng đạo luật này là lý do khiến họ bị các cử tri bảo vệ quyền sở hữu súng “đá” khỏi thế đa số ở Hạ viện vài tháng sau đó. 5 năm sau, Phó Tổng thống Al Gore dẫn đầu một nỗ lực vận động tại Thượng viện Mỹ nhằm thông qua một quy định hạn chế việc bán súng tại các buổi triển lãm, sau khi xảy ra vụ thảm sát trường Trung học Columbine 1999.

Hai sự kiện trên đánh dấu nỗ lực của phe Dân chủ trong việc giảm thiểu tình trạng bạo lực do súng gây ra. Tuy nhiên nó đã khiến ông Al Gore và phe Dân chủ mất sự ủng hộ tại một số bang làm nông nghiệp chủ chốt, những người vốn xem quyền sở hữu súng như cơm ăn nước uống hàng ngày. Hậu quả là ông Al Gore thua trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2000.

Tới năm 2004, khi lệnh cấm vũ khí tấn công hết hiệu lực, phe Dân chủ trong Quốc hội đã nhớ đòn đau ngày nào nên không có các động thái nghiêm túc trong việc gia hạn nó. Tổng thống George W. Bush cũng quyết định để đạo luật này đi vào dĩ vãng. Cho tới tận giờ, phe Cộng hòa vẫn phản đối mạnh mọi đề xuất luật kêu gọi quản lý súng, còn phe Dân chủ thì nói rằng họ ưu tiên giải quyết các vấn đề khác.
 
Lãnh đạo chính trị né tránh

Ngay cả hai nhân vật chính trị đang ở tâm điểm chú ý của nước Mỹ hiện nay là đương kim Tổng thống Barack Obama và ứng cử viên Tổng thống của phe Cộng hòa Mitt Romney cũng né tránh vấn đề kiểm soát súng, dù trước đó họ ủng hộ ý tưởng kiểm soát.

Được biết thời gian làm Thống đốc bang Illinois kéo dài từ năm 1997-2004, ông Obama đã ủng hộ lệnh cấm toàn bộ các vũ khí bán tự động và tăng cường giới hạn vũ khí nói chung trong phạm vi bang. Ông thậm chí còn đề xuất việc mỗi người chỉ được mua một khẩu súng ngắn trong 1 tháng, nhưng không thành.

Trong kỳ vận động bầu cử Tổng thống 2008, ông Obama đã ủng hộ việc áp đặt trở lại lệnh cấm vũ khí tấn công như dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Ông cũng yêu cầu kiểm tra kỹ thân nhân của những người mua súng tại các hội chợ bán súng. Tuy nhiên sau khi lên nắm quyền, ông Obama hầu như đả động rất ít tới việc kiểm soát súng. Năm 2011, sau vụ nổ súng làm 6 người ở Arizona thiệt mạng, ông Obama đã kêu gọi triển khai các biện pháp hiệu quả để giữ súng tránh xa tầm tay của những tên tội phạm. Nhưng ông không bàn điều gì cụ thể và kể từ đó tới nay, chính quyền của ông không đưa ra thêm các đề xuất giới hạn súng mới nào.

Về phần ông Romney, hồi năm 1994, ông từng tuyên bố “tôi không đứng cùng hàng với Hiệp hội Súng quốc gia (NRA)”. Năm 2002, khi vận động tranh cử vào ghế Thống đốc bang Massachusett, ông Romney tuyên bố sẽ bảo vệ các quy định kiểm soát súng “ngặt nghèo nhất của bang”. Để trả đũa, NRA đã không ra tuyên bố ủng hộ ông. Khi là Thống đốc bang Massachusett, ông Romney đã khiến những người “yêu súng” tức giận vì ký luật tăng gấp 4 lần phí sở hữu súng của bang, từ 25 lên 100 USD. Năm sau, ông lại chọc giận cử tri với việc cấm vũ khí tấn công.

Nhưng ngay khi chuẩn bị chạy đua vào ghế Tổng thống hồi năm 2006, ông Romney lập tức trở thành thành viên vĩnh viễn của NRA. Năm 2011, ông Romney nói rằng nếu trở thành Tổng thống, ông sẽ bảo vệ quyền sở hữu súng của người dân và tố cáo ông Obama đang làm suy giảm quyền này. Khi vụ thảm sát Aurora xảy ra, cả 2 nhân vật đều lên án tội ác của sát thủ, nhưng họ đều né tránh việc đưa ra lời kêu gọi tăng cường kiểm soát súng.

Harry Wilson, một giáo sư ở Đại học Roanoke và là tác giả một cuốn sách viết về súng trong chính trị, nói rằng tội phạm nghiêm trọng đã giảm nhiều trong mấy năm gần đây. Vì thế dư luận Mỹ cũng khó chấp nhận việc tăng cường kiểm soát súng hơn. Theo ông, nếu bất kỳ chính đảng hoặc chính khách nào nêu vấn đề kiểm soát súng trong giai đoạn hiện nay, họ có thể giành được cảm tình và lá phiếu của một bộ phận cử tri nào đó. “Nhưng trên quy mô quốc gia, chắc chắn họ sẽ là kẻ thua cuộc. Bất kỳ nỗ lực nào trong việc nhấn mạnh việc kiểm soát súng sẽ chỉ mang lại lợi ích cho phe đối lập. Và trong một chiến dịch vận động tranh cử chính trị, chẳng ai muốn nhận lấy bất lợi về phía mình” – ông kết luận.

Thảo Nguyên (Tổng hợp)