Những cứu tinh áo xanh ở Săm Pun
GiadinhNet - "Tôi đã đi nhiều nơi trên đất nước mình, thầy mùa đông ở Săm Pun là khắc nghiệt nhất. Chai dầu gội đầu để ngoài trời 1 đêm là đóng băng, muốn dùng phải ngâm vào nước đun sôi mới ta ra được. Người dân ở đây quen chịu đựng gian khổ, họ thấy đó là chuyện bình thường. Những người lính cũng như vậy, mỗi hành động của họ là những sẻ chia, đùm bọc ấm áp với nhân dân".
Ai từng lên miền biên thùy heo hút, qua cung đường nằm cheo leo trên đỉnh núi, bên này núi chạm mây, bên kia vực sâu thẳm, mùa đông buốt lạnh thấu xương - mùa hè nắng cháy da thịt người... thì mới phần nào hiểu được nỗi vất vả, nhọc nhằn và sự hy sinh thầm lặng của những con người đang ngày đêm bảo vệ miền biên giới xa xôi của Tổ quốc. Mùa xuân này, tôi lại lên đây, sẻ chia với những người lính của đồn biên phòng Săm Pun – Mèo Vạc – Hà Giang.
Những cứu tinh áo xanh ở Săm Pun.
Cái “sự ốm” của một chàng trai bản
Bản Lùng Thúng chỉ có hơn chục nóc nhà tường trình của đồng bào Mông. Bản nằm dưới thung lũng nhỏ, ba bề, bốn bên núi đá cao vút. Bản Lùng Thúng có những ngôi nhà nằm e ấp sau bờ rào đá, đẹp mê hồn. Lối vào bản là con đường mòn men theo sườn núi, tím lịm sắc hoa bạc hà.
Nhà của Thò Mí Lùng cũng ở ngay chân núi, đường đi vào thung lũng xinh đẹp. Chưa đến 20 tuổi nhưng Lùng đã có vợ và 1 con gần 6 tháng tuổi. Vợ Lùng tên là May, kém chồng 1 tuổi và không biết chữ. Lấy nhau chưa đầy 1 năm, Lùng đột nhiên đổ bệnh rất nặng. May mới sinh con nhỏ, chưa biết làm gì để có tiền đi chữa bệnh cho chồng. Thương Lùng, nhưng mùa này nhà nào cũng khó khăn. Mùa giáp hạt, lại sắp Tết nữa, May chật vật lắm mới xoay xở được một ít lương thực để nuôi sống gia đình nhỏ của mình. Chuyện Lùng đang tuổi trai tráng bỗng lăn ra ốm đau quặt quẹo, chẳng mấy chốc lan đi khắp bản.
Đó là một ngày mây mù vây kín bản Lùng Thúng. Lùng thức giấc từ sớm để lên nương. Anh mang theo một chiếc gùi to và đùm mèn mén (ngô hấp) mà May đã chuẩn bị từ tờ mờ sáng. Đêm qua, May trằn trọc không ngủ, cô bảo chồng chịu khó lên núi, gùi đất, đổ vào hốc đá, đợi đến lúc mưa xuân, May sẽ gieo hạt ngô giống xuống đất ấy. Bẵng đi 1 ngày, không thấy Lùng trở về. Ra ngóng vào trông, lòng dạ May cồn cào như lửa đốt, cô hấp tấp địu con lên núi tìm chồng. May hoảng hốt tột độ khi trông thấy Lùng nằm bất động trong hang đá. Nước mắt anh giàn giụa trên gương mặt mệt mỏi. Lùng nói với May: “Tao sắp bị Giàng (trời) bắt đi rồi, tự dưng khuỵu xuống không bước nổi nữa. May cứ để con đấy tao trông, chạy mau về bản, bảo mọi người buộc cái chăn vào cáng, làm võng, khiêng tao về nhà”.
Kể từ hôm đó, các khớp chân, tay của Lùng cứ tự nhiên sưng tấy lên, đỏ như tôm luộc. Lùng đau đớn, rên rỉ suốt ngày, đêm. Không ai trong bản biết Lùng mắc bệnh gì. Cha, mẹ Lùng bán tất cả tài sản trong nhà để vời “thầy mo” về nhà cúng cho Lùng. Lão “thầy mo” kết luận xanh rờn: “Thằng Lùng bị con “ma ngũ hải” nó làm cho ốm đau què quặt mà chết thôi. Muốn nó khỏi được, phải để tao cúng, đuổi con “ma” đi. Mất nhiều tiền đấy, gần chục triệu” – Lão “thầy mo” lạnh lùng ra giá. Mẹ Lùng khóc, May cũng khóc theo, nhà nghèo quá, tiền đâu ra? Lão “thầy mo” thấy nước mắt, tỏ ra khó chịu, cằn nhằn: “Thế định tiếc tiền hay tiếc mạng sống của thằng Lùng đấy hử. Không làm thì thôi, đây cũng chẳng ép uổng gì đâu nhé”. Rồi một tuần hương khói trôi qua, mấy cái lễ lạt, khiến cho lợn, gà, bò, dê của nhà Lùng... bỗng chốc hoá ra “ma” hết tiệt. Nhưng cái chân của Lùng thì không vì thế mà nhấc lên nổi.
“Vị cứu tinh” áo xanh
Nhà Lùng không còn thứ gì có thể bán, lấy tiền cúng “ma” được nữa. “Thầy mo” kiếm cớ phải sang Mỏ Phàng, cứu 1 em bé bị đau bụng, chuồn mất tăm. May nhìn chồng nằm bất động trên giường, nước mắt cô nhòe đi vì xót xa. Lùng ngày càng ốm nặng. Nhiều đêm không ngủ, Lùng nghĩ đến câu hát quen thuộc trong đám ma của người Mông: “Mình chết thật hay mình chết giả/ Mình chết giả thì mình dậy đi/ Lúc này, con người và vũ trụ lu mờ, lạnh lẽo/ Nơi thiên đình ta dẫn mình đi chơi mọi chỗ”. Mỗi ngày, Lùng cảm nhận cuộc sống bắt đầu bằng những cảnh tượng lạnh lẽo. Không khí có cái gì đó rất giống một đám tang, có tiếng khèn, tiếng sáo ủ ê và khói hương mù mịt. Lùng buột miệng kêu: “Giàng ơi! Hãy bắt con nhanh để chấm dứt nỗi đau đớn này”.
Lùng đang được Đại úy Dũng chăm sóc sức khỏe.
Một buổi sáng trong lành, khi Mặt trời vừa ló ra khỏi đỉnh núi, vầng hào quang hiếm hoi sáng lấp lánh trên nóc nhà của người Lùng Thúng. Ông Lử, bố đẻ của Lùng, nhẹ nhàng đến bên giường con trai, sờ tay lên trán của Lùng, nó vẫn sốt cao, những khớp xương sưng tấy, đỏ như tôm luộc. Ông Lử ghé sát tai Lùng nói nhỏ: “Mày cố gắng thêm nhé! Đêm qua tao đã nghĩ ra rồi, chỉ còn cách cuối cùng là nhờ bộ đội biên phòng ở đồn Săm Pun. Hôm trước Thào Thị Dế ở bản mình đẻ khó, suýt chết, mà họ còn cứu được cả mẹ lẫn con đấy”.
“Phải rồi, chỉ có họ mới giúp được mình thôi, cha đi nhanh lên” – Mắt Lùng sáng rực, khuôn mặt mọi khi đờ đẫn, bỗng trở nên hoạt bát lạ thường. Tia hi vọng mong manh chợt lóe lên. Lùng giục giã cha mau chóng lên đường.
Đại uý Tạ Anh Dũng, người phụ trách phòng khám “quân dân y” vừa trở về từ bản Lùng Thàng. Hôm qua, Đại úy Dũng vừa trở thành “vị cứu tinh” của chị Phàn Thị Chiều, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Xín Cái. Chị Chiều đẻ khó, theo phong tục, phải sinh con tại nhà. Lúc nguy hiểm đến tính mạng, mẹ của Chiều nhờ người gọi điện thoại báo cho y sĩ Dũng. Chị Chiều lịm đi, người tím tái vì mất máu nhiều... Lúc này, Trạm trưởng Y tế xã Xín Cái cũng vừa có mặt. 2 người đàn ông “xoay trần” ra cứu mẹ con chị Chiều. Đêm đó, cả nhà chị Chiều uống rượu ăn mừng đến tận sáng hôm sau. Nụ cười rạng rỡ còn vương trên khuôn mặt của người lính biên phòng giản dị.
Trung tá Nguyễn Hữu Thủy - Chính trị viên đồn Săm Pun, tiếp đón ông Lử ân cần. Nghe xong câu chuyện về Lùng, anh Thủy gọi anh Dũng lên, họ cùng nhau đi về bản Lùng Thúng. Kể từ đấy, ngày nào anh Dũng cũng cuốc bộ vào Lùng Thúng tiêm kháng sinh cho Lùng. Chưa đầy 1 tuần trăng thì Lùng ngồi dậy được. Lùng thì tự hào khoe với tôi: “Cán bộ Dũng là người đã sinh ra Lùng lần nữa đấy!”.
Bộ đội biên phòng đồn Săm Pun đang xây nhà cho bà con biên giới.
Xuân về trên miền biên giới
Tôi đang sống trong cái rét ngọt ngào của mùa xuân nơi biên thùy cực Bắc. Giáp Tết, phiên chợ nào cũng đông vui như hội. Người mua, kẻ bán cười nói xôn xao. Những phụ nữ Mông vận những chiếc váy rực rỡ sắc màu để xuống chợ. Tiếng khèn gọi bạn, tiếng hát trong trẻo của những chàng trai, cô gái tìm nhau giữa chợ phiên... đánh thức không gian cô liêu của vùng núi đá tai mèo heo hút.
Thượng úy Nguyễn Văn Hải chở tôi xuống bản Mỏ Phàng bằng xe máy, con đường “kinh dị” quá. Chiếc xe máy chồm lên như con ngựa bất kham khi gặp những tảng đá hộc chắn ngang đường. Anh Hải bảo: “Mấy năm nay mới có đường xe máy, tuy đường chẳng ra đường nhưng còn đỡ hơn trước. Hồi đó, muốn xuống bản gần nhất giải quyết công việc cũng phải đi bộ cả nửa ngày. Đi mãi rồi cái chân quen, gắn bó với bà con biên giới không muốn rời xa nữa. Từ lâu, tôi coi Săm Pun là quê hương thứ 2 của mình”.
Anh Hải là trai miền biển, nước da ngăm đen khỏe khoắn. Hải đã sống trên núi hơn 10 năm, bố mẹ già, vợ và 2 đứa con đều ở Thái Bình. Mỗi năm Hải chỉ về quê được 2 lần, 1 đợt nghỉ phép và 1 lần tranh thủ. Hải tâm sự: “Lúc mới lấy nhau, vợ tôi khóc nhiều vì chồng đi biền biệt. Tôi đón vợ lên đây sống cùng, trải qua những mùa đông băng giá... cô ấy bảo “em sợ rồi, cho em về thôi. Các anh khổ thật sự thế này, em đâu dám so đo nữa”. Tôi biết ơn vợ vì sự hi sinh trọn vẹn cho gia đình để tôi yên tâm công tác”.
Câu chuyện theo chúng tôi đến bản Mỏ Phàng. Đó cũng là bản nhỏ xinh đẹp của xã Thượng Phùng, huyện Mèo Vạc. Mỏ Phàng là vùng giáp biên giới, có quan hệ thông thương giữa 2 nước Việt – Trung nên đời sống kinh tế của dân bản cũng khá hơn.
Trung uý Đoàn Khắc Điền là người phụ trách tổ công tác biên phòng bảo vệ bản Mỏ Phàng. Vợ anh Điền là cô giáo dạy tiểu học ở xã Thượng Phùng. Mối tình đẹp như mơ nảy sinh sau những chuyến họ cùng nhau xuống bản, vận động bà con cho trẻ đến trường. Bây giờ vẫn như vậy, anh Điền coi nhiệm vụ của vợ cũng là của mình. Hôm nào có hoc sinh nghỉ học, Điền lại thay vợ đến tận nơi, tìm hiểu nguyên nhân, vận động trẻ tiếp tục đến trường. Đến bây giờ, cặp vợ chồng này đã ngót 10 năm gửi trọn tình cảm, nhiệt huyết của mình cho đồng bào biên giới. Vì công việc quá bận rộn, không có điều kiện chăm sóc con mình... họ phải cầm lòng gửi cả 2 đứa nhỏ về quê cho ông bà nội, ngoại chăm bẵm. Nhiều đêm nhớ con, vợ Điền khóc sụt sùi, sau đó gạt nước mắt và sống tiếp những tháng ngày cống hiến.
Bé Giàng Thị Mỉ nhà ở gần trường Mỏ Phàng,
bé là học sinh của cô giáo Hạnh, vợ Thiếu úy Đoàn Khắc Điền.
Tôi nhớ lời Đại tá Nguyễn Đình Hùng, Chính uỷ Bộ đội Biên phòng Hà Giang, khi nói đến những anh em chiến sĩ ở Săm Pun: “Đó là những người hùng sống giữa miền đất dữ. Cũng là cái “lò” luyện ý chí kiên cường của người lính trong lực lượng biên phòng chúng tôi”. Theo lời Đại tá Hùng, tôi phải gặp bằng được Thiếu tá Kim Đình Tư, Phó Trưởng đồn biên phòng Săm Pun.
Ngay từ khi là lính trinh sát, Tư đã từng đi bộ ròng rã hơn 1 tháng trời, đến 32 xóm bản thuộc địa bàn quản lý để lần ra những đối tượng khả nghi, ghi vào “sổ đen”. Khi đó, nạn cướp, bắt cóc trẻ em trên tuyến biên giới Săm Pun diễn ra phức tạp. Tư âm thầm làm án qua nghiên cứu các thông tin theo dõi riêng của mình. Được đề bạt lên Đồn phó, phụ trách công tác đấu tranh chống các loại tội phạm, sự cố gắng của anh đã phát huy tác dụng. Liên tiếp có những chuyên án lớn được lực lượng biên phòng Hà Giang triệt phá thành công, bắt giữ hàng chục đối tượng buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới.
Đại tá Hùng từng nhận xét: “Tư là người lính quên mình vì nhiệm vụ. Anh ấy chịu khó xuống địa bàn, sống cùng nhân dân nên được bà con yêu quý, kính trọng. Đó là tấm gương sáng về lòng dũng cảm, sự chịu đựng gian khổ để cho mỗi người lính trẻ học tập, noi theo”. Nhận xét về chồng mình, chị Tâm - vợ thiếu tá Tư nói: “Anh ấy yêu công việc đến nỗi khi gọi về để đưa tôi ra huyện sinh em bé, vẫn nói: “Đợi anh làm nốt cái chuyên án này đã”.
Nói đến đây, chị Tâm nhìn chồng cười âu yếm. Có lẽ hiểu được niềm đam mê công việc của Tư, không đáng trách giận, nên chị Tâm sẵn sàng cảm thông với chồng. Là giáo viên miền xuôi, tình nguyện theo chồng lên biên thuỳ cực Bắc, chị Tâm cũng như anh Tư, không biết từ lúc nào đã coi miền biên giới xa xôi, những em bé nghèo nơi đây như là máu thịt. Nhưng anh Tư, anh Điền còn hạnh phúc hơn anh Hải và nhiều đồng đội khác, bởi có vợ ở bên động viên, chia sẻ.
Tết đến gần, Trung tá Thuỷ huy động toàn bộ đơn vị đến những bản nhỏ để hoàn thành 12 “nhà đại đoàn kết” cho bà con đón Tết. Anh Thuỷ động viên chiến sĩ của mình: “Cố lên anh em, Tết của chúng ta sẽ vui hơn, khi trông thấy nụ cười rạng rỡ trên môi người già, trẻ nhỏ, trong ngôi nhà mới”. Biên cương thân yêu, ở đó có những con người với tấm lòng đẹp như đoá hoa rừng đang nở trong nắng xuân tươi mới.
Ký sự của THÙY CHI
Báo Gia đình & Xã hội Xuân Canh Dần